Nhìn vào hai đề xuất, phần lớn người vay chọn bên có lãi suất thấp hơn. Cách chọn này đúng khi hai bên có cùng cấu trúc phí, nhưng sai khi một bên thu thêm phí dịch vụ. Ví dụ dưới đây cho thấy vì sao.
Ví dụ với khoản 10 triệu đồng, 6 tháng
Đối tác A công bố lãi suất 16%/năm và thu phí dịch vụ 5% trên số tiền vay khi giải ngân. Đối tác B công bố lãi suất 18,25%/năm và không thu phí dịch vụ. Cả hai tính lãi đơn trên dư nợ gốc.
| Khoản 10.000.000 đ · 6 tháng | Đối tác A | Đối tác B |
|---|---|---|
| Lãi suất công bố | 16%/năm | 18,25%/năm |
| Tiền lãi 6 tháng | 800.000 đ | 912.500 đ |
| Phí dịch vụ | 500.000 đ | 0 đ |
| Tổng chi phí | 1.300.000 đ | 912.500 đ |
| Tổng phải trả | 11.300.000 đ | 10.912.500 đ |
Số liệu minh hoạ. Nếu phí dịch vụ trừ thẳng vào khoản giải ngân, bạn chỉ nhận 9.500.000 đ nhưng vẫn phải trả nợ trên 10.000.000 đ.
Ba bước so sánh trong vài phút
- Ghi lại cùng một số tiền và cùng một kỳ hạn cho mọi đề xuất.
- Cộng tiền lãi với mọi khoản phí ghi trong bảng kê: phí dịch vụ, phí quản lý, phí bảo hiểm nếu có.
- Đặt các con số tổng phải trả cạnh nhau và chọn số nhỏ nhất mà bạn trả được đúng hạn.
Ghi nhớ
Lãi suất cho biết giá của tiền, còn tổng phải trả cho biết giá của cả khoản vay. Chỉ con số thứ hai mới so sánh được giữa các đối tác.
Dùng bảng so sánh của VNDCredit
Trên trang Đề xuất khoản vay, mỗi thẻ đối tác có dòng tổng phải trả ước tính theo lãi suất công bố cho đúng số tiền và kỳ hạn bạn chọn. Đánh dấu tối đa ba đối tác rồi mở bảng so sánh để đặt chúng cạnh nhau. Con số này chưa gồm phí phát sinh, nên vẫn cần đối chiếu với bảng kê trong hợp đồng. Cách đọc lãi suất theo năm được giải thích kỹ ở bài lãi suất 18,25%/năm nghĩa là gì.
Nhập số tiền và kỳ hạn, VNDCredit đối chiếu điều kiện của các đối tác được cấp phép và xếp theo khả năng được duyệt.
Xem đề xuất của tôi →